BÀI 2: ƯU ĐÃI THUẾ TNDN ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN THÀNH LẬP TRONG KCN

BÀI 2: ƯU ĐÃI THUẾ TNDN ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN THÀNH LẬP TRONG KCN

 

Việc áp dụng ưu đãi thuế TNDN tại Việt Nam hiện nay đang gặp quá nhiều vướng mắc, chính sách không rõ ràng, mỗi địa phương hiểu một kiểu, vận dụng một kiểu, cơ quan thuế thì luôn hiểu theo hướng làm thế nào để thu được càng nhiều tiền thuế càng tốt bất chấp việc có thể đưa doanh nghiệp đến bờ vực phá sản vì phải gánh chịu số tiền truy thu thuế + phạt thuế lên đến vài tỷ đồng đến vài trăm tỷ đồng.

 

Thật vậy, không chỉ riêng các chủ doanh nghiệp không có đủ thông tin mà ngay cả đơn vị, cá nhân chuyên cung cấp dịch vụ cho khách hàng mặc dù đã tìm hiểu, nghiên cứu văn bản, chính sách thuế rất kỹ lưỡng trước khi tư vấn cho khách hàng vẫn thường xuyên bị việt vị trong chính sách ưu đãi thuế tại Việt Nam. Đơn cử một vài trường hợp cụ thể để chúng ta có cái nhìn thực tế về việc vận dụng chưa đúng các chính sách ưu đãi thuế TNDN hiện nay.

MH(3)

Vừa qua, hàng loạt doanh nghiệp được thành lập theo Luật đầu tư do UBND tỉnh Bình Phước cấp phép trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2008, theo đó điều kiện để UBND tỉnh Bình Phước áp dụng chính sách ưu đãi thuế TNDN cho doanh nghiệp là "Dự án mới thành lập trong khu công nghiệp theo hướng dẫn tại Nghị định 164/2003/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 22/12/2003 quy định chi tiết thi hành luật thuế TNDN và Nghị định 152/2004/NĐ-CP ngày 6/8/2004 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của 164/2003/NĐ-CP".

Theo đó mức thuế suất và miễn giảm thuế TNDN như sau:

·         Thuế suất thuế TNDN hàng năm bằng 15% trong 12 năm từ khi bắt đầu hoạt động kinh doanh và bằng 28% cho thời gian còn lại;

·         Miễn thuế TNDN trong ba năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% trong bảy năm tiếp theo.

Các Doanh nghiệp thực hiện đúng và đầy đủ tất cả các quy định, chính sách của Nhà nước về kế toán, thuế,… thế nhưng khi Cục thuế tỉnh Bình Phước thanh tra, kiểm tra tại doanh nghiệp đã phát sinh trường hợp như sau:

Cục thuế tỉnh Bình Phước không chấp nhận cho doanh nghiệp được hưởng ưu đãi theo nội dung đã được UBND tỉnh Bình Phước ghi trên Giấy phép đầu tư với lý do: các doanh nghiệp này được thành lập trong KCN Minh Hưng Hàn Quốc – đây là KCN được UBND tỉnh Bình Phước ký Quyết định thành lập, không phải Thủ tướng ký Quyết định thành lập vì thế không đủ điều kiện áp dụng miễn, giảm thuế TNDN theo điều kiện đã ghi trên Giấy phép mà chuyển sang áp dụng ưu đãi thuế suất và miễn, giảm thuế theo điều kiện ưu đãi cho các dự án mới thành lập tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn. Như vậy các doanh nghiệp được thành lập tại KCN Minh Hưng – Hàn Quốc sẽ phải điều chỉnh ưu đãi thuế TNDN như sau:

·         Thuế suất thuế TNDN hàng năm bằng 20% trong 10 năm từ khi bắt đầu hoạt động kinh doanh và bằng 22% cho thời gian còn lại;

·         Miễn thuế TNDN trong hai năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% trong sáu năm tiếp theo.

Như vậy hàng loạt các doanh nghiệp được thành lập trong khu công nghiệp Minh Hưng – Hàn Quốc bị tính lại thuế TNDN, truy thu và phạt chậm nộp thuế TNDN cho việc áp dụng chưa đúng các quy định của Nhà nước (theo quan điểm của Cục thuế tỉnh Bình Phước).

Tuy nhiên, vấn đề cần trao đổi ở đây là có sự hiểu và vận dụng chưa đúng các chính sách ưu đãi thuế TNDN từ chính các cơ quan thực thị pháp luật, trong trường hợp cụ thể này là Cục thuế tỉnh Bình Phước.

Để hiểu rõ và thuận tiện trong việc trao đổi các chính sách liên quan đến trường hợp cụ thể trên, chúng ta cần xem xét các cơ sở pháp lý sau:

·         Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 12 tháng 11 năm 1996; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 09 tháng 6 năm 2000;

·         Nghị định 24/2000/NĐ-CP ngày 31/7/2000 của Chính phủ qui định chi tiết thi hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam;

·         Nghị định 27/2003/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 24/2000/NĐ-CP ngày 31/7/2000 của Chính phủ qui định chi tiết thi hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam;

·         Luật thuế TNDN số 09/2003/QH11 ngày 17 tháng 6 năm 2003, chưa qui định ưu đãi thuế TNDN đối với dự án đầu tư thành lập trong khu công nghiệp;

·         Nghị định 164/2003/NĐ-CP ngày 22/12/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành luật thuế TNDN, chưa qui định ưu đãi thuế TNDN đối với dự án đầu tư thành lập trong khu công nghiệp;

·         Thông tư 128/2003/TT-BTC ngày 22/12/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định 164/2003/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật thuế TNDN, chưa qui định ưu đãi thuế TNDN đối với dự án đầu tư thành lập trong khu công nghiệp;

·         Nghị định 152/2004/NĐ-CP ngày 6/8/2004 của Chính phủ Sửa đổi, bổ sung một số điều nghị định số 164/2003/NĐ-CP ngày 22 tháng 12 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp,

·         Thông tư 88/2004/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 01/9/2004, sửa đổi, bổ sung Thông tư số 128/2003/TT-BTC ngày 22/12/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 164/2003/NĐ-CP ngày 22/12/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp.

·         Luật đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29/11/2005;

·         Nghị định 108/NĐ-CP ngày 22/9/2006 quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Luật đầu tư;

·         Nghị định số 24/2007/NĐ-CP ngày 14/02/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp.

Từ các cơ sở các văn bản vi phạm pháp luật trên Chúng ta xem xét chi tiết các nội dung liên quan để cùng làm rõ việc vận dụng của Thuế Bình Phước:

Ø  Nghị định 152/2004/NĐ-CP ngày 6/8/2004 của Chính phủ Sửa đổi, bổ sung một số điều nghị định số 164/2003/NĐ-CP ngày 22 tháng 12 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, theo đó:

Tại khoản 3 Điều 1 bổ sung như sau:

"Thuế suất 15% đối với cơ sở dịch vụ mới thành lập từ dự án đầu tư thực hiện trong Khu Chế xuất; cơ sở sản xuất mới thành lập từ dự án đầu tư thực hiện trong Khu Công nghiệp;"

Tại mục b, khoản 4, Điều 1 bổ sung như sau:

"b) Được miễn thuế 03 năm, kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% số thuế phải nộp cho 07 năm tiếp theo đối với cơ sở dịch vụ mới thành lập từ dự án đầu tư thực hiện trong Khu Chế xuất, cơ sở sản xuất mới thành lập từ dự án đầu tư thực hiện trong Khu Công nghiệp;"

 

Ø  Thông tư 88/2004/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 01/9/2004, sửa đổi, bổ sung Thông tư số 128/2003/TT-BTC ngày 22/12/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 164/2003/NĐ-CP ngày 22/12/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp.

Được sửa đổi, bổ sung như sau:

5.1.2- Tiết 1.4, Điểm 1 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“1.4- Thuế suất  15% áp dụng đối với: cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư tại địa bàn  C; cơ sở dịch vụ mới thành lập từ dự án đầu tư thực hiện trong Khu chế xuất; cơ sở sản xuất mới thành lập từ dự án đầu tư thực hiện trong Khu công nghiệp.”

 

5.2- Tiết 2.1, Điểm 2 được sửa đổi, bổ sung như sau:

 

“ 2.1 Thuế suất 10% được áp dụng trong 15 năm, kể từ khi hợp tác xã và cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư bắt đầu hoạt động kinh doanh. Trường hợp cần đặc biệt khuyến khích cao hơn, Bộ tài chính trình Thủ tướng Chính phủ quyết định thời gian áp dụng thuế suất 10%  trong suốt thời gian thực hiện dự án.”

 

6.1.1- Bổ sung thêm tiết 1.13 với nội dung như sau: 

 

“1.13. Cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư thực hiện tại Khu công nghiệp, Khu chế xuất  được miễn thuế,  giảm thuế như sau:

 

b- Miễn thuế 03 năm, kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% số thuế phải nộp cho 07 năm tiếp theo đối với: cơ sở dịch vụ mới thành lập từ dự án đầu tư thực hiện trong Khu chế xuất; cơ sở sản xuất mới thành lập từ dự án đầu tư thực hiện trong Khu công nghiệp;

Giai đoạn này chưa có một văn bản nào của Nhà nước định nghĩa về Khu công nghiệp. Do đó, Cơ sở sản xuất mới thành lập từ dự án đầu tư thực hiện trong khu công nghiệp từ năm 2003 đến trước ngày 26/10/2006 (thời điểm Nghị định 108/2006/NĐ-CP có hiệu lực) sẽ được hưởng ưu đãi thuế TNDN theo Nghị định 152/2004/NĐ-CP và Thông tư 88/2004/TT-BTC và không có vấn đề gì phải tranh cải thêm, mức ưu đãi được áp dụng cụ thể như sau:

·         Thuế suất thuế TNDN hàng năm bằng 15% trong 12 năm từ khi bắt đầu hoạt động kinh doanh và bằng 28% cho thời gian còn lại;

·         Miễn thuế TNDN trong ba năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% trong bảy năm tiếp theo.

 

Ø  Nghị định 108/NĐ-CP ngày 22/9/2006 quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Luật đầu tư theo đó tại điểm 55 Phụ lục số II Danh mục địa bàn ưu đãi đầu tư (ban hành kèm theo Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ), quy định: "Các KCN được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn."

Đây chính là nguyên nhân dẫn đến việc Cục thuế tỉnh Bình Phước không chấp nhận cho các doanh nghiệp thành lập trong KCN Minh Hưng Hàn Quốc được áp dụng ưu đãi thuế TNDN theo quy định tại Nghị định 152/2004/NĐ-CP nêu trên kể cả các doanh nghiệp được thành lập trước ngày Nghị định 108/2006/NĐ-CP có hiệu lực (Cần chú ý thêm rằng hầu hết các văn bản pháp qui của Việt Nam là bất hồi tố và trong trường hợp này cũng không có ngoại lệ).

Từ việc vướng mắc trong việc áp dụng chính sách ưu đãi thuế TNDN đối với trường hợp này, chúng tôi xin được chia sẽ thêm các văn bản hướng dẫn của các cơ quan chức năng liên quan để thấy rõ hơn sự bất cập trong việc hiểu và vận dụng chính sách của cơ quan thuế:

·         Quyết định số 1107/QĐ-TTg ngày 21/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển các KCN ở Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 (Quyết định số 1107/QĐ-TTg). Trong đó, KCN Minh Hưng đã được Thủ tướng phê duyệt.

·         Công văn số 1214/BKH-KCN&KCX ngày 27/02/2007 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư gửi các UBND tỉnh và thành phố trực thuộc Trung Ương, KCN, KCX, Khu công nghệ cao và khu kinh tế hướng dẫn thủ tục thành lập KCN, KCX;

·         Công văn số 4191/BKH-PC ngày 11/6/2008 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong đó có nêu: “Trường hợp các Khu công nghiệp được thành lập theo Quyết định do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ký trên cơ sở đã có văn bản đồng ý của Thủ tướng Chính phủ được coi là: Các khu công nghiệp được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định tại điểm 53 Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 108/2006/NĐ-CP và hưởng các ưu đãi đầu tư theo quy định hiện hành về khu công nghiệp”.

·         Công văn số 9189/BTC-TCT ngày 07/08/2008 của Bộ Tài chính V/v xác định ngành nghề ưu đãi đầu tư trong đó Bộ Tài chính đã thông báo nội dung của Công văn số 4191/BKH-PC của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và đề nghị các Cục thuế địa phương thực hiện;

·         Công văn số 2023/TCT-CS ngày 11/6/2010 của Tổng cục thuế V/v trả lời chính sách thuế cho Công ty TNHH đồ chơi Chee Wah Việt Nam theo đó: “Trường hợp các Khu công nghiệp được thành lập theo Quyết định do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ký trên cơ sở đã có văn bản đồng ý của Thủ tướng Chính phủ được coi là: Các khu công nghiệp được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định tại điểm 53 Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 108/2006/NĐ-CP và hưởng các ưu đãi đầu tư theo quy định hiện hành về khu công nghiệp”.

 

Theo hướng dẫn tại Công văn số 1214/BKH-KCN&KCX ngày 27/02/2007 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư gửi các UBND tỉnh và thành phố trực thuộc Trung Ương, KCN, KCX, Khu công nghệ cao và khu kinh tế hướng dẫn thủ tục thành lập KCN, KCX thì:

"2.1. Đối với KCN, KCX

 a) Các dự án KCN, KCX sau đây được xem là đã có chủ trương hoặc quyết định của Thủ tướng Chính phủ theo quy định tại Điểm h, Khoản 1, Điều 37 và Điểm b, Khoản 2, Điều 71, Nghị định số 108/2006/NĐ-CP:

+ Dự án đầu tư thành lập mới hoặc dự án mở rộng KCN, KCX đã nằm trong Danh mục các KCN dự kiến ưu tiên thành lập mới và dự kiến mở rộng đến năm 2015 ban hành kèm theo Quyết định số 1107/QĐ-TTg ngày 21/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển các KCN ở Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 (Quyết định số 1107/QĐ-TTg).

+ Dự án đầu tư thành lập KCN, KCX đã nằm trong Quy hoạch chung xây dựng khu kinh tế đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

b) Đối với các dự án nêu trên, căn cứ Khoản 4, Điều 37 Cơ quan cấp Giấy chứng nhận đầu tư thực hiện thủ tục thẩm tra, cấp Giấy chứng nhận đầu tư mà không phải trình Thủ tướng Chính phủ xin chấp thuận chủ trương đầu tư, cho phép thành lập KCN, KCX."

Từ các văn bản hướng dẫn trên bất cứ ai trong chúng ta cũng có thể hiểu rất rõ rằng: Nếu KCN, KCX được thành lập do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ký Quyết định thành lập trên cơ sở đã nằm trong Danh mục các KCN dự kiến ưu tiên thành lập mới và dự kiến mở rộng đến năm 2015 ban hành kèm theo Quyết định số 1107/QĐ-TTg ngày 21/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển các KCN ở Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 đều được xem là KCN, KCX được xem là đã có chủ trương hoặc quyết định của Thủ tướng Chính phủ theo quy định tại Điểm h, Khoản 1, Điều 37 và Điểm b, Khoản 2, Điều 71, Nghị định số 108/2006/NĐ-CP.

Thế nhưng, thật vô cùng khó hiểu khi Cục thuế tỉnh Bình Phước cho rằng KCN Minh Hưng Hàn Quốc do UBND tỉnh Bình Phước ký Quyết định thành lập trên cơ sở đã nằm trong quy hoặch theo Quyết định số 1107/QĐ-TTg ngày 21/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ lại không đủ điều kiện để xem là KCN theo quy định tại điểm 53 Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 108/2006/NĐ-CP.

Chúng tôi xin trích dẫn nội dung Công văn số 265/CT-TTHT của Cục thuế tỉnh Bình Phước trả lời cho Công ty TNHH C&N Vina V/v Ưu đãi thuế TNDN trong KCN Minh Hưng Hàn Quốc để thay cho lời kết vô cùng khó hiểu như đã trình bày trên.

"Căn cứ các quy định trên, các văn bản pháp luật quy định về điều kiện được hưởng ưu đãi thuế TNDN đã trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, tuy nhiên điều kiện: KCN được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ là không thay đổi (Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Bộ Tài chính có văn bản chấp thuận KCN được thành lập theo Quyết định do Chủ tịch UBND tỉnh ký trên cơ sở đã có văn bản đồng ý của Thủ tướng Chính phủ cũng được coi là KCN được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ). Do đó, nếu KCN Minh Hưng – Hàn Quốc chưa có Quyết định thành lập của Thủ tướng Chính phủ hoặc Quyết định do Chủ tịch UBND tỉnh ký trên cơ sở đã có văn bản đồng ý của Thủ tướng Chính phủ thì các doanh nghiệp đầu tư vào KCN Minh Hưng – Hàn Quốc không được coi là đầu tư vào KCN được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Vậy các doanh nghiệp đầu tư vào KCN Minh Hưng-Hàn Quốc, được hưởng điều kiện ưu đãi về thuế TNDN, quy định. “Đầu tư vào địa bàn thuộc Danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn do Chính phủ ban hành theo quy định của Luật Đầu tư”.

Việc vướng mắc trên không chỉ riêng các doanh nghiệp tại tỉnh Bình Phước mà còn nhiều địa phương khác cũng đang gặp trường hợp tương tư. Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết này chỉ đề cập đến một trường hợp cụ thể nhất cũng đủ thấy việc áp dụng chính sách vô cùng khó hiểu của cơ quan thực thi pháp luật (trong nội dung bài viết này chưa bàn đến vấn đề hiệu lực của các văn bản), rất mong Quý vị đóng góp thêm ý kiến để việc đọc, hiểu và vận dụng văn bản pháp luật được thông suốt hơn, góp phần vào việc cải cách thủ tục hành chính, thu hút đầu tư, cải thiện môi trường kinh doanh, tạo dựng lòng tin nơi các nhà đầu tư và giúp cho các chính sách của Nhà nước phát huy đúng tác dụng, đạt hiệu quả cao, góp phần đẩy nhanh phát triển đất nước theo đúng tin thần của Chính phủ Việt Nam đã đề ra.

Quý vị có quan tâm hay cần chia sẽ các nội dung liên quan đến bài viết vui lòng email theo địa chỉ: tien.ct@vica.org.vn hoặc thanhtien@dhco.com.vn hoặc điện thoại 0914493456.

Xin chân thành cảm ơn.

Tin liên quan